Những chất đốt mỡ hiệu quả cao

Chất đốt mỡ hay chất đốt chất béo được sử dụng để mô tả các chất bổ sung dinh dưỡng được cho là làm tăng mạnh chuyển hóa chất béo hoặc tiêu hao năng lượng, làm giảm sự hấp thụ chất béo, tăng giảm cân, tăng quá trình oxy hóa chất béo trong quá trình tập thể dục hoặc bằng cách nào đó gây ra sự thích nghi lâu dài thúc đẩy quá trình chuyển hóa chất béo. Thông thường, các chất bổ sung này chứa một số thành phần, mỗi thành phần có cơ chế hoạt động được đề xuất riêng và người ta thường khẳng định rằng sự kết hợp của các chất này sẽ có tác dụng phụ.

Dưới đây là danh sách các chất đốt mỡ có hiệu quả hiện nay được sử dụng tự nhiên hoặc kết hợp đưa vào các loại thực phẩm bổ sung đốt mỡ.

Caffeine

Caffeine (1,3,7-trimethylxanthine) là một dẫn xuất alkaloid có trong tự nhiên và được thêm vào nhiều loại thực phẩm và đồ uống. Hầu hết đồ uống có chứa caffein được tiêu thụ trên toàn thế giới được chiết xuất từ ​​hạt cà phê hoặc lá trà hoặc được ăn như sô cô la có nguồn gốc từ hạt cacao. Có nhiều chất chuyển hóa khác trong cà phê và trà bao gồm các ancaloit khác (theobromine, paraxanthine, theophylline) và polyphenol (tannin và flavonoid). Không nên đánh đồng trực tiếp việc tiêu thụ viên nén chứa caffeine và thực phẩm bổ sung với việc tiêu thụ trà và cà phê, đặc biệt là từ góc độ sức khỏe. Caffeine được hấp thụ từ thực phẩm và đồ uống với thời gian đạt đến nồng độ đỉnh trong huyết tương là 30–90 phút và thời gian bán thải khoảng 4–6 giờ. Caffeine có thể giúp bạn đốt cháy chất béo bằng cách thúc đẩy sự trao đổi chất của bạn và giúp bạn đốt cháy nhiều chất béo hơn làm nhiên liệu. Nghiên cứu cho thấy rằng caffeine có thể tạm thời thúc đẩy sự trao đổi chất của bạn lên đến 16% trong vòng một đến hai giờ.

Nếu sử dụng caffeine liên tục sẽ gây ra chứng nghiện caffeine, và caffeine cũng không được khuyến cáo dành cho những người bị bệnh tim.

CLA – Axit linoleic liên hợp

Axit linoleic liên hợp (CLA) là một nhóm các đồng phân vị trí và hình học của axit linoleic axit béo thiết yếu omega-6. Cis-9, trans-11 ( c9, t11 ) là đồng phân chính được tìm thấy trong thực phẩm như thịt động vật nhai lại (thịt bò và thịt cừu) và các sản phẩm từ sữa (sữa và pho mát), trong khi các chế phẩm thương mại chứa lượng c9, t11 và trans bằng nhau -10, cis-12 ( t10, c12 ). CLA có thể hoạt động như một chất chống béo phì thông qua khả năng giảm năng lượng và lượng thức ăn, giảm quá trình tạo mỡ và tăng tiêu hao năng lượng, phân giải lipid và oxy hóa chất béo.

L-carnitine

L-carnitine (carnitine), một chất hiện diện với số lượng tương đối lớn trong thịt (từ tiếng Latinh caro-carnis có nghĩa là thịt hoặc cơ), đã nhận được rất nhiều sự chú ý trong 20 năm qua. Ở trạng thái nhịn ăn qua đêm và khi tập thể dục cường độ từ thấp đến trung bình, các axit béo chuỗi dài là nguồn năng lượng chính được hầu hết các mô, bao gồm cả cơ xương sử dụng. Chức năng chính của L-carnitine là vận chuyển các axit béo chuỗi dài qua màng trong của ty thể.  Chính vì vậy, Carnitine được cho là cải thiện quá trình chuyển hóa chất béo, giảm khối lượng chất béo và tăng khối lượng cơ. Vì vậy, carnitine thường được sử dụng để giảm cân, giảm mỡ trong cơ thể và cải thiện ‘sắc vóc’. Các vận động viên sức bền sử dụng carnitine để tăng quá trình oxy hóa chất béo và glycogen dự phòng cho cơ bắp.

Forskolin

Forskolin là một diterpene thuộc họ labdane được sản xuất bởi cây Coleus Ấn Độ ( Coleus forskohlii ). Forskolin thường được sử dụng để nâng cao mức cAMP trong nghiên cứu và nghiên cứu sinh lý học tế bào. Tác động của forskolin đối với cAMP đã được mô tả chi tiết ngay từ những năm 1980 và có thể được quan sát thấy trong các chế phẩm tế bào cô lập cũng như trong mô nguyên vẹn. Nếu cơ chế này cũng hoạt động trong cơ thể người sau khi uống forskolin, nó có thể dẫn đến việc kích hoạt lipase nhạy cảm với hormone và tăng phân giải lipid tạo điều kiện cho quá trình oxy hóa chất béo lớn hơn.

Trà 

Trà bắt nguồn từ lá của Camellia Sinensis L, một loài thực vật thuộc họ Theaceae. Các loại lá được chế biến như trà xanh, ô long và trà đen, khác nhau về thành phần do sự khác biệt trong quá trình lên men. Chiết xuất trà xanh cũng rất giàu caffeine và polyphenol epigallocatechin gallate (EGCG), cả hai đều là những hợp chất có thể giúp bạn đốt cháy chất béo.

Ngoài ra, hai hợp chất này bổ sung cho nhau và có thể giúp bạn đốt cháy chất béo thông qua một quá trình gọi là sinh nhiệt. Nói một cách dễ hiểu, sinh nhiệt là một quá trình trong đó cơ thể bạn đốt cháy calo để tạo ra nhiệt.

Yohimbine

Yohimbine là một chất được tìm thấy trong vỏ của cây Pausinystalia yohimbe , một loại cây được tìm thấy ở Trung và Tây Phi. Nó thường được sử dụng như một loại thuốc kích thích tình dục, nhưng nó cũng có các đặc tính có thể giúp bạn đốt cháy chất béo. Yohimbine hoạt động bằng cách ngăn chặn các thụ thể được gọi là thụ thể adrenergic alpha-2. Các thụ thể này thường liên kết adrenaline để ngăn chặn tác dụng của nó, một trong số đó là khuyến khích cơ thể đốt cháy chất béo để lấy nhiên liệu. Vì yohimbine ngăn chặn các thụ thể này, nó có thể kéo dài tác dụng của adrenaline và thúc đẩy sự phân hủy chất béo để làm nhiên liệu.

Ngoài ra, một số nghiên cứu cũng cho thấy rằng yohimbe còn có tác dụng làm giảm sự thèm ăn. Tuy nhiên, vì yohimbine giữ cho mức adrenaline của bạn tăng cao, nó có thể gây ra các tác dụng phụ như buồn nôn, lo lắng, các cơn hoảng sợ và huyết áp cao

 

Để lại bình luận